File: partitioning.xml

package info (click to toggle)
installation-guide 20070319
  • links: PTS
  • area: main
  • in suites: etch, etch-m68k
  • size: 29,356 kB
  • ctags: 53
  • sloc: xml: 184,383; sh: 1,023; perl: 403; awk: 200; makefile: 65
file content (921 lines) | stat: -rw-r--r-- 47,753 bytes parent folder | download
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
13
14
15
16
17
18
19
20
21
22
23
24
25
26
27
28
29
30
31
32
33
34
35
36
37
38
39
40
41
42
43
44
45
46
47
48
49
50
51
52
53
54
55
56
57
58
59
60
61
62
63
64
65
66
67
68
69
70
71
72
73
74
75
76
77
78
79
80
81
82
83
84
85
86
87
88
89
90
91
92
93
94
95
96
97
98
99
100
101
102
103
104
105
106
107
108
109
110
111
112
113
114
115
116
117
118
119
120
121
122
123
124
125
126
127
128
129
130
131
132
133
134
135
136
137
138
139
140
141
142
143
144
145
146
147
148
149
150
151
152
153
154
155
156
157
158
159
160
161
162
163
164
165
166
167
168
169
170
171
172
173
174
175
176
177
178
179
180
181
182
183
184
185
186
187
188
189
190
191
192
193
194
195
196
197
198
199
200
201
202
203
204
205
206
207
208
209
210
211
212
213
214
215
216
217
218
219
220
221
222
223
224
225
226
227
228
229
230
231
232
233
234
235
236
237
238
239
240
241
242
243
244
245
246
247
248
249
250
251
252
253
254
255
256
257
258
259
260
261
262
263
264
265
266
267
268
269
270
271
272
273
274
275
276
277
278
279
280
281
282
283
284
285
286
287
288
289
290
291
292
293
294
295
296
297
298
299
300
301
302
303
304
305
306
307
308
309
310
311
312
313
314
315
316
317
318
319
320
321
322
323
324
325
326
327
328
329
330
331
332
333
334
335
336
337
338
339
340
341
342
343
344
345
346
347
348
349
350
351
352
353
354
355
356
357
358
359
360
361
362
363
364
365
366
367
368
369
370
371
372
373
374
375
376
377
378
379
380
381
382
383
384
385
386
387
388
389
390
391
392
393
394
395
396
397
398
399
400
401
402
403
404
405
406
407
408
409
410
411
412
413
414
415
416
417
418
419
420
421
422
423
424
425
426
427
428
429
430
431
432
433
434
435
436
437
438
439
440
441
442
443
444
445
446
447
448
449
450
451
452
453
454
455
456
457
458
459
460
461
462
463
464
465
466
467
468
469
470
471
472
473
474
475
476
477
478
479
480
481
482
483
484
485
486
487
488
489
490
491
492
493
494
495
496
497
498
499
500
501
502
503
504
505
506
507
508
509
510
511
512
513
514
515
516
517
518
519
520
521
522
523
524
525
526
527
528
529
530
531
532
533
534
535
536
537
538
539
540
541
542
543
544
545
546
547
548
549
550
551
552
553
554
555
556
557
558
559
560
561
562
563
564
565
566
567
568
569
570
571
572
573
574
575
576
577
578
579
580
581
582
583
584
585
586
587
588
589
590
591
592
593
594
595
596
597
598
599
600
601
602
603
604
605
606
607
608
609
610
611
612
613
614
615
616
617
618
619
620
621
622
623
624
625
626
627
628
629
630
631
632
633
634
635
636
637
638
639
640
641
642
643
644
645
646
647
648
649
650
651
652
653
654
655
656
657
658
659
660
661
662
663
664
665
666
667
668
669
670
671
672
673
674
675
676
677
678
679
680
681
682
683
684
685
686
687
688
689
690
691
692
693
694
695
696
697
698
699
700
701
702
703
704
705
706
707
708
709
710
711
712
713
714
715
716
717
718
719
720
721
722
723
724
725
726
727
728
729
730
731
732
733
734
735
736
737
738
739
740
741
742
743
744
745
746
747
748
749
750
751
752
753
754
755
756
757
758
759
760
761
762
763
764
765
766
767
768
769
770
771
772
773
774
775
776
777
778
779
780
781
782
783
784
785
786
787
788
789
790
791
792
793
794
795
796
797
798
799
800
801
802
803
804
805
806
807
808
809
810
811
812
813
814
815
816
817
818
819
820
821
822
823
824
825
826
827
828
829
830
831
832
833
834
835
836
837
838
839
840
841
842
843
844
845
846
847
848
849
850
851
852
853
854
855
856
857
858
859
860
861
862
863
864
865
866
867
868
869
870
871
872
873
874
875
876
877
878
879
880
881
882
883
884
885
886
887
888
889
890
891
892
893
894
895
896
897
898
899
900
901
902
903
904
905
906
907
908
909
910
911
912
913
914
915
916
917
918
919
920
921
<!-- Start of file partitioning/partitioning.xml -->
<!-- $Id: partitioning.xml 11648 2004-03-22 00:37:46Z joeyh $ -->

<appendix id="partitioning">
<title
>Phân vùng cho Debian</title>


<!-- Start of file partitioning/sizing.xml -->
<!-- $Id: sizing.xml 11648 2004-03-22 00:37:46Z joeyh $ -->


 <sect1 id="partition-sizing">
 <title
>Chọn phân vùng Debian, đặt kích cỡ phân vùng</title>
<para
>Hệ thống GNU/Linux cần thiết ít nhất một phân vùng riêng. Phân vùng đó có thể chứa toàn bộ hệ điều hành, tất cả các ứng dụng và tập tin cá nhân. Phần lớn người xem là cũng cần thiết một phân vùng trao đổi. Chỗ <quote
>trao đổi</quote
> (swap) là sức chứa hỗn tạp cho hệ điều hành, cho phép hệ thống sử dụng sức chứa trên đĩa là <quote
>bộ nhớ ảo</quote
>. Bằng cách để chỗ trao đổi trên phân vùng riêng, bạn cho Linux khả năng rất tận dụng bộ nhớ đó hơn. Có thể ép buộc Linux sử dụng tập tin chuẩn là chỗ trao đổi, nhưng mà phương pháp đó không khuyến khích. </para
><para
>Phần lớn người cũng chọn cho hệ thống GNU/Linux có hơn số phân vùng tối thiểu. Có hai lý do bạn có thể muốn chia hệ thống tập tin ra nhiều phân vùng nhỏ hơn. Lý do thứ nhất là sự an toàn. Nếu cái gì xảy ra để hỏng hệ thống tập tin, thường chỉ một phân vùng riêng bị hại. Vì vậy bạn cần phải phục hồi (từ bản sao lưu bạn thường tạo) chỉ một phần của hệ thống. Bạn nên tạo tối thiểu một phân vùng riêng thường được gọi như là <quote
>phân vùng gốc</quote
> (root partition), mà chứa những thành phần chủ yếu nhất của hệ thống. Nếu phân vùng khác nào bị hỏng, bạn vẫn còn có khả năng khởi động vào GNU/Linux trên phân vùng riêng này, để sửa chữa hệ thống. Phân vùng gốc này có thể tránh trường hợp mà bạn cần phải cài đặt lại toàn bộ hệ thống. </para
><para
>Lý do thứ hai thường là quan trọng hơn trong trường hợp kinh doanh, nhưng nó thật sự phụ thuộc vào cách sử dụng máy tính. Chẳng hạn máy phục vụ thư tín tràn ngập bởi thư rác có thể chiếm dễ dàng toàn bộ phân vùng. Nếu bạn đã cấu hình vùng thư tín <filename
>/var/mail</filename
> là phân vùng riêng trên máy phục vụ thư tín, phần lớn của hệ thống còn lại hoạt động được thậm chí nếu nó bị rác tràn. </para
><para
>Mặt không thuận lợi thật duy nhất khi sử dụng phân vùng thêm là thường khó biết trước các nhu cầu của mình. Nếu bạn cấu hình phân vùng quá nhỏ, bạn sẽ phải hoặc cài đặt lại hệ thống, hoặc cũng luôn chuyển các thứ ra để tạo chỗ rảnh trong phân vùng thấp nhỏ đó. Mặt khác, nếu bạn cấu hình phân vùng quá lớn, bạn sẽ hoài phí sức chứa có thể được tận dụng trên vùng khác. Hiện thời sức chứa trên đĩa là rẻ, nhưng tại sao xài phí tiền? </para>
 </sect1>
<!--   End of file partitioning/sizing.xml -->

<!-- Start of file partitioning/tree.xml -->
<!-- $Id: tree.xml 39465 2006-07-30 15:03:12Z fjp $ -->


 <sect1 id="directory-tree">
 <title
>Cây thư mục</title>
<para
>&debian; tùy theo <ulink url="&url-fhs-home;"
>Tiêu Chuẩn Phân Cấp Hệ Thống Tập Tin</ulink
> khi đặt tên của tập tin và thư mục. Tiêu chuẩn này cho người dùng và chương trình phần mềm có khả năng dự đoán vị trí của tập tin và thư mục. Thư mục cấp gốc được đại diện đơn giản bằng dấu xuyệc <filename
>/</filename
>. Trên cấp gốc, mọi hệ thống Debian chứa những thư mục này: <informaltable
> <tgroup cols="2">
<thead>
<row>
  <entry
>Thư mục</entry
><entry
>Nội dung</entry>
</row>
</thead>

<tbody>
<row>
  <entry
><filename
>bin</filename
></entry>
  <entry
>Tập tin nhị phân lệnh chủ yếu</entry>
</row
><row>
  <entry
><filename
><filename
>boot</filename
></filename
></entry>
  <entry
>Tập tin tĩnh của bộ tải khởi động</entry>
</row
><row>
  <entry
><filename
>dev</filename
></entry>
  <entry
>Tập tin thiết bị</entry>
</row
><row>
  <entry
><filename
>etc</filename
></entry>
  <entry
>Cấu hình hệ thống đặc trưng cho máy</entry>
</row
><row>
  <entry
><filename
><filename
>home</filename
></filename
></entry>
  <entry
>Thư mục chính của người dùng</entry>
</row
><row>
  <entry
><filename
>lib</filename
></entry>
  <entry
>Thư viện dùng chung và mô-đun hạt nhân chủ yếu</entry>
</row
><row>
  <entry
><filename
><filename
>media</filename
></filename
></entry>
  <entry
>Chứa điểm lắp cho vật chứa có thể thay thế</entry>
</row
><row>
  <entry
><filename
>mnt</filename
></entry>
  <entry
>Điểm lắp để gắn kết tạm thời hệ thống tập tin</entry>
</row
><row>
  <entry
><filename
><filename
>proc</filename
></filename
></entry>
  <entry
>Thư mục ảo cho thông tin hệ thống (hạt nhân 2.4 và 2.6)</entry>
</row
><row>
  <entry
><filename
><filename
>root</filename
></filename
></entry>
  <entry
>Thư mục chính của người dùng chủ</entry>
</row
><row>
  <entry
><filename
><filename
>sbin</filename
></filename
></entry>
  <entry
>Tập tin nhị phân hệ thống chủ yếu</entry>
</row
><row>
  <entry
><filename
>sys</filename
></entry>
  <entry
>Thư mục ảo cho thông tin hệ thống (hạt nhân 2.6)</entry>
</row
><row>
  <entry
><filename
>tmp</filename
></entry>
  <entry
>Tập tin tạm thời</entry>
</row
><row>
  <entry
><filename
>usr</filename
></entry>
  <entry
>Phân cấp phụ</entry>
</row
><row>
  <entry
><filename
>var</filename
></entry>
  <entry
>Dữ liệu có thể thay đổi</entry>
</row
><row>
  <entry
><filename
>srv</filename
></entry>
  <entry
>Dữ liệu cho dịch vụ do hệ thống cung cấp</entry>
</row
><row>
  <entry
><filename
>opt</filename
></entry>
  <entry
>Gói phần mềm ứng dụng phụ trợ</entry>
</row>
</tbody
></tgroup
></informaltable>
</para>

<para
>Sau đây có danh sách các sự cân nhắc quan trọng về thư mục và phân vùng. Ghi chú rằng sức chứa trên đĩa được chiếm có thay đổi nhiều với kiểu cấu hình hệ thống và mẫu sử dụng riêng. Những sự giới thiệu này là hướng dẫn chung và cung cấp một điểm bắt đầu khi tạo phân vùng. </para>
<itemizedlist>
<listitem
><para
>Thư mục gốc <filename
>/</filename
> luôn luôn phải chứa vật lý những thư mục <filename
>/etc</filename
>, <filename
>/bin</filename
>, <filename
>/sbin</filename
>, <filename
>/lib</filename
> và <filename
>/dev</filename
>, nếu không thì bạn không thể khởi động được. Thường cần thiết vùng 150&ndash;250 MB dành cho phân vùng gốc. </para
></listitem>
<listitem
><para
>Thư mục <filename
>/usr</filename
>: chứa mọi chương trình người dùng (<filename
>/usr/bin</filename
>), thư viện (<filename
>/usr/lib</filename
>), tài liệu hướng dẫn (<filename
>/usr/share/doc</filename
>), v.v. Đây là phần của hệ thống tập tin mà thường chiếm chỗ nhiều nhất. Bạn nên cung cấp cho nó ít nhất 500 MB sức chứa trên đĩa, cũng tăng số lượng này phụ thuộc vào số và kiểu gói phần mềm cần cài đặt. Bản cài đặt chạy trên máy trạm hay máy phục vụ nên tính rộng lượng đến 4-6 GB. </para
></listitem>
<listitem
><para
>Thư mục <filename
>/var</filename
>: dữ liệu có thể thay đổi, như bài tin, thư điện tử, nơi Mạng, co sở dữ liệu, bộ nhớ tạm của hệ thống quản lý gói phần mềm, nằm dưới thư mục này. Kích cỡ của thư mục này phụ thuộc nhiều vào cách sử dụng hệ thống, nhưng thường được điều khiển bởi những tài nguyên cần thiết cho công cụ quản lý gói. Nếu bạn định chạy tiến trình cài đặt đầy đủ, gồm gần mọi thứ do Debian cung cấp, trong cùng một phiên chạy, cấp phát 2-3 GB sức chứa riêng cho thư mục <filename
>/var</filename
> nên là đủ. Còn nếu bạn định chạy tiến trình cài đặt từ từ (tức là cài đặt các dịch vụ và tiện ích, rồi các điều nhập thô, rồi X v.v.), bạn có thể làm trôi chảy bằng cách gán 300&ndash;500 MB riêng. Nếu bạn không có nhiều sức chứa còn rảnh trên đĩa, cũng không định chạy tiến trình cập nhật hệ thống quan trọng, 30 hay 40 MB có thể là đủ. </para
></listitem>
<listitem
><para
>Thư mục <filename
>/tmp</filename
>: dữ liệu tạm thời được tạo bởi chương trình thường nằm trong thư mục này. Sức chứa đủ thường là 40-100 MB. Một số ứng dụng &mdash; gồm bộ thao tác kho, công cụ tạo đĩa CD/DVD và phần mềm đa phương tiện &mdash; có thể dùng thư mục <filename
>/tmp</filename
> để cất giữ tạm thời tập tin ảnh. Nếu bạn định sử dụng ứng dụng như vậy, bạn nên điều chỉnh sức chứa sẵn sàng trong thư mục <filename
>/tmp</filename
> cho phù hợp. </para
></listitem>
<listitem
><para
>Thư mục <filename
>/home</filename
>: mỗi người dùng sẽ để các dữ liệu cá nhân vào thư mục con của thư mục này. Kích cỡ của nó phụ thuộc vào số người dùng sẽ sử dụng hệ thống đó và những tập tin nào sẽ được cất giữ trong thư mục của họ. Phụ thuộc vào cách sử dụng đã định, bạn nên dành riêng khoảng 100 MB cho mỗi người dùng, nhưng thích nghi giá trị này với nhu cầu của bạn. Hãy dành riêng rất nhiều sức chứa hơn nếu bạn định lưu nhiều tập tin đa phương tiện (ảnh, âm nhạc, phim) vào thư mục chính này. </para
></listitem>
</itemizedlist>

 </sect1>
<!--   End of file partitioning/tree.xml -->

<!-- Start of file partitioning/schemes.xml -->
<!-- $Id: schemes.xml 39465 2006-07-30 15:03:12Z fjp $ -->


 <sect1>
 <title
>Bố trí phân vùng khuyến khích</title>
<para
>Đối với người dùng mới, máy tính Debian cá nhân, hệ thống ở nhà, và các thiết lập người đơn khác, một phân vùng <filename
>/</filename
> riêng lẻ (thêm vào là vùng trao đổi) rất có thể là cách làm dễ dàng nhất. Tuy nhiên, nếu bạn có phân vùng lớn hơn khoảng 6 GB, hãy chọn « ext3 » là kiểu phân vùng. Phân vùng kiểu « ext2 » cần thiết được kiểm tra theo định kỷ (tính nguyên vẹn hệ thống tập tin) mà có thể gây ra tiến trình khởi động bị hoãn trên phân vùng lớn. </para
><para
>Còn đối với hệ thống đa người dùng, hay hệ thống có rất nhiều sức chứa trên đĩa, tốt nhất là để mỗi thư mục <filename
>/usr</filename
>, <filename
>/var</filename
>, <filename
>/tmp</filename
>, và <filename
>/home</filename
> trên một phân vùng riêng, khác với phân vùng <filename
>/</filename
> (5 phân vùng). </para
><para
>Có lẽ bạn cần có một phân vùng <filename
>/usr/local</filename
> riêng nếu bạn định cài đặt nhiều chương trình không thuộc về bản phát hành Debian. Nếu máy tính của bạn sẽ chạy trình phục vụ thư tín, bạn có thể cần phải đặt thư mục <filename
>/var/mail</filename
> là một phân vùng riêng. Thường, việc để thư mục <filename
>/tmp</filename
> trên phân vùng riêng (v.d. 20-50 MB) là ý kiến tốt. Nếu bạn đang thiết lập máy phục vụ có nhiều tài khoản người dùng, thường có ích để tạo phân vùng <filename
>/home</filename
> lớn riêng. Nói chung, trường hợp cấu hình phân vùng thay đổi từ máy tính này đến máy tính khác, phụ thuộc vào cách sử dụng. </para
><para
>Đối với hệ thống rất phức tạp, bạn nên xem tài liệu Đa Đĩa Thế Nào <ulink url="&url-multidisk-howto;"
>Multi Disk HOWTO</ulink
>. Nó chứa thông tin chi tiết, phần lớn có ích cho nhà cung cấp dịch vụ Mạng và người thiết lập máy phục vụ. </para
><para
>Có nhiều ý kiến khác nhau về kích cỡ thích hợp của phân vùng trao đổi. Theo kinh nghiệm, có ích để cấu hình vùng trao đổi có cùng một kích cỡ với bộ nhớ hệ thống. Trong phần lớn trường hợp, kích cỡ tối thiểu là 16 MB. Tất nhiên những quy tắc này có ngoại lệ: nếu bạn đang thử giải 1000 phương trình đồng thời trên máy tính có chỉ 256 MB bộ nhớ, bạn có thể cần thiết 1 GB vùng trao đổi. </para
><para arch="m68k"
>Mặt khác, máy tính kiểu Atari Falcon và Mac gặp khó khăn trong việc trao đổi, vậy thay vào tạo vùng trao đổi lớn, bạn hãy giành RAM nhiều nhất có thể. </para
><para
>Trên kiến trúc kiểu 32-bit (i386, m68k, 32-bit SPARC, và PowerPC), kích cỡ tối đa của phân vùng trao đổi là 2 GB. Đó nên là đủ cho gần bất cứ bản cài đặt nào. Tuy nhiên, nếu bạn cần thiết vùng trao đổi lớn như vậy, rất có thể là bạn nên thử chia vùng trao đổi ra nhiều đĩa khác nhau (cũng được gọi như là <quote
>spindle</quote
>) và, nếu có thể, ra nhiều kênh SCSI hay IDE khác nhau. Hạt nhân sẽ làm cho cân xứng cách sử dụng vùng trao đổi giữa nhiều phân vùng trao đổi, làm hiệu suất tốt hơn. </para
><para
>Lấy thí dụ, một máy tính cũ hơn ở nhà có 32 MB RAM và đĩa cứng IDE 1.7 GB trên <filename
>/dev/hda</filename
>. Có một phân vùng 500 MB cho hệ điều hành khác trên <filename
>/dev/hda1</filename
>, một phân vùng trao đổi 32 MB trên <filename
>/dev/hda3</filename
> và khoảng 1.2 GB phân vùng Linux trên <filename
>/dev/hda2</filename
>. </para
><para
>Để tìm biết sức chứa được chiếm bởi công việc bạn có thể muốn thêm sau khi cài đặt xong hệ thống, xem <xref linkend="tasksel-size-list"/>. </para>

 </sect1>
<!--   End of file partitioning/schemes.xml -->

<!-- Start of file partitioning/device-names.xml -->
<!-- $Id: device-names.xml 39614 2006-08-07 15:50:11Z fjp $ -->


 <sect1 id="device-names">
 <title
>Tên thiết bị dưới Linux</title>
<para
>Tên của đĩa và phân vùng Linux có thể là khác với hệ điều hành khác. Bạn cần phải biết những tên bị Linux dùng khi bạn tạo và gắn kết phân vùng. Đây là lược đồ đặt tên cơ bản: </para>
<itemizedlist arch="not-s390">
<listitem
><para
>Đĩa mềm thứ nhất có tên <filename
>/dev/fd0</filename
>. </para
></listitem>
<listitem
><para
>Đĩa mềm thứ hai có tên <filename
>/dev/fd1</filename
>. </para
></listitem>
<listitem
><para
>Đĩa SCSI thứ nhất (theo địa chỉ SCSI ID) có tên <filename
>/dev/sda</filename
>. </para
></listitem>
<listitem
><para
>Đĩa SCSI thứ hai (theo địa chỉ) có tên <filename
>/dev/sdb</filename
>, v.v. </para
></listitem>
<listitem
><para
>Đĩa CD-ROM SCSI thứ nhất có tên <filename
>/dev/scd0</filename
>, cũng được biết như là <filename
>/dev/sr0</filename
>. </para
></listitem>
<listitem
><para
>Đĩa cái trên bộ điều khiển chính IDE có tên <filename
>/dev/hda</filename
>. </para
></listitem>
<listitem
><para
>Đĩa phụ trên bộ điều khiển chính IDE có tên <filename
>/dev/hdb</filename
>. </para
></listitem>
<listitem
><para
>Hai đĩa cái và phụ của bộ điều khiển phụ có tên <filename
>/dev/hdc</filename
> và <filename
>/dev/hdd</filename
>, riêng từng cái. Bộ điều khiển IDE mới hơn thật sự có khả năng có hai kênh, kết quả là hoạt động như hai bộ điều khiển. <phrase arch="m68k"
> Những chữ có thể khác biệt với chữ được hiển thị trong chương trình Mac pdisk (tức là pdisk hiển thị <filename
>/dev/hdc</filename
> còn Debian hiển thị <filename
>/dev/hda</filename
>). </phrase
> </para
></listitem>

<listitem arch="x86"
><para
>Đĩa XT thứ nhất có tên <filename
>/dev/xda</filename
>. </para
></listitem>
<listitem arch="x86"
><para
>Đĩa XT thứ hai có tên <filename
>/dev/xdb</filename
>. </para
></listitem>
<listitem arch="m68k"
><para
>Thiết bị ACSI thứ nhất có tên <filename
>/dev/ada</filename
>, điều thứ hai có tên <filename
>/dev/adb</filename
>. </para
></listitem>
</itemizedlist>

<itemizedlist arch="s390">
<listitem
><para
>Thiết bị DASD thứ nhất có tên <filename
>/dev/dasda</filename
>. </para
></listitem>
<listitem
><para
>Thiết bị DASD thứ hai có tên <filename
>/dev/dasdb</filename
>, v.v. </para
></listitem>
</itemizedlist>

<para arch="not-s390"
>Những phân vùng nằm trên mỗi đĩa được đại diện bằng cách phụ thêm một số thập phân vào tên đĩa: <filename
>sda1</filename
> và <filename
>sda2</filename
> đại diện phân vùng thứ nhất và thứ hai của ổ đĩa SCSI thứ nhất trên hệ thống. </para
><para arch="not-s390"
>Đây là thí dụ cuộc sống thực. Giả sử bạn có hệ thống với 2 đĩa SCSI, một đĩa tại địa chỉ SCSI 2 và đĩa khác tại địa chỉ SCSI 4. Đĩa thứ nhất (tại địa chỉ 2) thì có tên <filename
>sda</filename
>, và đĩa thứ hai có tên <filename
>sdb</filename
>. Nếu ổ đĩa <filename
>sda</filename
> chứa 3 phân vùng, chúng có tên <filename
>sda1</filename
>, <filename
>sda2</filename
> và <filename
>sda3</filename
>. Cũng vậy với đĩa <filename
>sdb</filename
> và các phân vùng nằm trên nó. </para
><para arch="not-s390"
>Ghi chú rằng nếu bạn có hai bộ tiếp hợp mạch nối máy SCSI (tức là bộ điều khiển), thứ tự các ổ đĩa có thể trở thành khó hiểu. Trong trường hợp này, phương pháp tốt nhất là theo dõi các thông điệp khởi động, giả sử bạn biết mô hình và/hay khả năng của các ổ đĩa. </para
><para arch="x86"
>Linux đại diện các phân vùng chính dạng tên ổ đĩa, rồi con số từ 1 đến 4. Ví dụ, phân vùng chính thứ nhất nằm trên ổ đĩa IDE thứ nhất là <filename
>/dev/hda1</filename
>. Những phân vùng hợp lý được đặt số từ 5, thì phân vùng hợp lý thứ nhất nằm trên cùng ổ đĩa đó là <filename
>/dev/hda5</filename
>. Ghi nhớ rằng phân vùng đã mở rộng, tức là phân vùng chính chứa các phân vùng hợp lý, không thể được dùng riêng. Cũng vậy với đĩa SCSI, không phải chỉ kiểu IDE. </para
><para arch="m68k"
>Hệ thống kiểu VMEbus dùng đĩa mềm SCSI TEAC FC-1 sẽ phát hiện nó là đĩa SCSI chuẩn. Để làm đơn giản hơn việc nhận diện ổ đĩa, phần mềm cài đặt sẽ tạo liên kết tượng trưng đến thiết bị thích hợp và đặt tên là <filename
>/dev/sfd0</filename
>. </para
><para arch="sparc"
>Phân vùng đĩa kiểu Sun tính đến 8 phân vùng (hay lát) riêng. Phân vùng thứ ba thường (và nên) là phân vùng <quote
>Whole Disk</quote
> (toàn bộ đĩa). Phân vùng này tham chiếu đến mọi rãnh ghi của đĩa đó, và được dùng bởi bộ tải khởi động (hoặc SILO, hoặc điều của Sun). </para
><para arch="s390"
>Các phân vùng nằm trên mỗi đĩa được đại diện bằng cách phụ thêm một số thập phân vào tên đĩa: <filename
>dasda1</filename
> và <filename
>dasda2</filename
> đại diện phân vùng thứ nhất và thứ hai của thiết bị DASD thứ nhất trên hệ thống. </para>
 </sect1>
<!--   End of file partitioning/device-names.xml -->

<!-- Start of file partitioning/partition-programs.xml -->
<!-- $Id: partition-programs.xml 42302 2006-10-28 23:28:36Z fjp $ -->

 <sect1 id="partition-programs">
 <title
>Chương trình tạo phân vùng Debian</title>
<para
>Vài kiểu chương trình tạo phân vùng đã được làm thích nghi bởi nhà phát triển Debian để hoạt động được trên nhiều kiểu đĩa cứng và kiến trúc máy tính khác nhau. Sau đây có danh sách các chương trình thích hợp với kiến trúc của máy tính này. </para>

<variablelist>

<varlistentry>
<term
><command
>partman</command
></term>
<listitem
><para
>Công cụ tạo phân vùng khuyến khích trong Debian. Chương trình này có nhiều khả năng có ích: nó cũng có thể thay đổi kích cỡ của phân vùng, tạo hệ thống tập tin <phrase arch="x86"
> (<quote
>format</quote
> [định dạng] trên hệ điều hành Windows)</phrase
> và gán nó vào điểm lắp. </para
></listitem>
</varlistentry>

<varlistentry condition="fdisk.txt">
<term
><command
>fdisk</command
></term>
<listitem
><para
>Bộ tạo phân vùng Linux gốc, thích hợp với người dùng rất kinh nghiệm. </para
><para
>Hãy cẩn thận nếu bạn có phân vùng kiểu FreeBSD tồn tại trên máy tính. Những hạt nhân cài đặt chứa khả năng hỗ trợ những phân vùng này, nhưng cách đại diện (hay không) của <command
>fdisk</command
> có thể làm cho tên thiết bị khác biệt. Xem tài liệu Linux và FreeBSD Thế Nào <ulink url="&url-linux-freebsd;"
>Linux+FreeBSD HOWTO</ulink
>. </para
></listitem>
</varlistentry>

<varlistentry condition="cfdisk.txt">
<term
><command
>cfdisk</command
></term>
<listitem
><para
>Bộ tạo phân vùng đĩa toàn màn hình dễ dàng, thích hợp với phần lớn người. </para
><para
>Ghi chú rằng chương trình <command
>cfdisk</command
> không hiểu phân vùng kiểu FreeBSD bằng cách nào cả, lại có kết quả là tên thiết bị có thể khác biệt. </para
></listitem>
</varlistentry>

<varlistentry condition="atari-fdisk.txt">
<term
><command
>atari-fdisk</command
></term>
<listitem
><para
>Phiên bản của <command
>fdisk</command
> thích hợp với máy tính Atari. </para
></listitem>
</varlistentry>

<varlistentry condition="amiga-fdisk.txt">
<term
><command
>amiga-fdisk</command
></term>
<listitem
><para
>Phiên bản của <command
>fdisk</command
> thích hợp với máy tính Amiga. </para
></listitem>
</varlistentry>

<varlistentry condition="mac-fdisk.txt">
<term
><command
>mac-fdisk</command
></term>
<listitem
><para
>Phiên bản của <command
>fdisk</command
> thích hợp với máy tính Mac. </para
></listitem>
</varlistentry>

<varlistentry condition="pmac-fdisk.txt">
<term
><command
>pmac-fdisk</command
></term>
<listitem
><para
>Phiên bản của <command
>fdisk</command
> thích hợp với máy tính PowerMac, cũng được dùng bởi hệ thống kiểu BVM và VMEbus Motorola. </para
></listitem>
</varlistentry>

<varlistentry condition="fdasd.txt">
<term
><command
>fdasd</command
></term>
<listitem
><para
>Phiên bản của <command
>fdisk</command
> thích hợp với kiến trúc &arch-title;; xem trang hướng dẫn của « fdasd » hay chương 13 của tài liệu <ulink url="http://oss.software.ibm.com/developerworks/opensource/linux390/docu/l390dd08.pdf"
> Các trình điều khiển thiết bị và lệnh cài đặt</ulink
> để tìm chi tiết. </para
></listitem>
</varlistentry>
</variablelist>

<para
>Một của những chương trình này sẽ được chạy theo mặc định khi bạn chọn mục trình đơn <guimenuitem
>Phân vùng đĩa</guimenuitem
> (hay tương tự). Có thể sử dụng công cụ tạo phân vùng khác từ dòng lệnh trên VT2, nhưng không khuyên bạn làm như thế. </para
><para arch="x86"
>Hãy ghi nhớ cần phải đánh dấu phân vùng khởi động như là <quote
>Khởi động được</quote
> (Bootable). </para
><para condition="mac-fdisk.txt"
>Khi tạo phân vùng trên đĩa kiểu Mac, một điểm khoá là phân vùng trao đổi (swap) được nhận diện theo tên; nó phải có tên <quote
>swap</quote
>. Mọi phân vùng Linux trên Mac có cùng một kiểu phân vùng: « Apple_UNIX_SRV2 ». Xem sổ tay tốt đẹp. Cũng khuyên bạn đọc trợ lý <ulink url="&url-mac-fdisk-tutorial;"
>mac-fdisk Tutorial</ulink
>, mà gồm những bước cần theo nếu bạn chia sẻ đĩa với hệ điều hành MacOS. </para>


<!-- Start of file partitioning/partition/alpha.xml -->
<!-- $Id: alpha.xml 39920 2006-08-17 17:52:44Z fjp $ -->


  <sect2 arch="alpha"
><title
>Phân vùng cho &arch-title;</title>
<para
>Khả năng khởi động Debian từ bàn giao tiếp SRM (phương pháp khởi động đĩa duy nhất do &releasename; hỗ trợ) cần thiết bạn có nhãn đĩa kiểu BSD, không phải bảng phân vùng DOS, nằm trên đĩa khởi động. (Ghi nhớ : khối khởi động SRM không tương thích với bảng phân vùng kiểu MS-DOS &mdash; xem <xref linkend="alpha-firmware"/>.) Kết quả là trình <command
>partman</command
> tạo nhãn đĩa BSD trong khi chạy trên kiến trúc &architecture;, nhưng nếu đĩa của bạn có bảng phân vùng DOS tồn tại, các phân vùng tồn tại sẽ cần phải được xoá bỏ trước khi trình <command
>partman</command
> có thể chuyển đổi nó để dùng nhãn đĩa. </para
><para
>Nếu bạn đã chọn dùng chương trình <command
>fdisk</command
> để phân vùng đĩa, và đĩa bạn đã chọn phân vùng không chứa nhãn đĩa BSD, bạn cần phải sử dụng lệnh <quote
>b</quote
> để vào chế độ nhãn đĩa. </para
><para
>Nếu bạn không muốn sử dụng đĩa bạn đang phân vùng, từ UNIX kiểu Tru64 hay một của những hệ điều hành bắt nguồn từ 4.4BSD-Lite (FreeBSD, OpenBSD, hoặc NetBSD), đề nghị bạn <emphasis
>không phải</emphasis
> tạo phân vùng thứ ba như là <quote
>toàn bộ đĩa</quote
> (tức là nó và hai rãnh ghi đầu và cuối chiếm toàn bộ đĩa), vì sự chọn này gây ra đĩa không tương thích với những công cụ được dùng để làm cho nó khởi động được với bộ tải khởi động aboot. Nghĩa là đĩa được cấu hình bởi bộ cài đặt để sử dụng như là đĩa khởi động Debian sẽ không tới được từ những hệ điều hành được nói trên. </para
><para
>Hơn nữa, vì trình <command
>aboot</command
> được ghi vào vài rãnh ghi đầu của đĩa (hiện thời nó chiếm khoảng 70 kb hay 150 rãnh ghi), bạn <emphasis
>cần phải</emphasis
> để lại đủ sức chứa còn rảnh tại phần đầu đĩa để chứa trình này. Trong quá khứ, đề nghị bạn tạo một phân vùng nhỏ tại phần đầu đĩa, để còn lại chưa được định dạng, Vì lý do nói trên, hiện thời đề nghị bạn không làm như thế trên đĩa sẽ được dùng chỉ bởi hệ thống GNU/Linux. Khi bạn dùng trình <command
>partman</command
>, một phân vùng nhỏ sẽ được tạo dành cho trình <command
>aboot</command
> vì lý do tiện lợi. </para
><para condition="FIXME"
>Đối với việc cài đặt kiểu ARC, bạn nên tạo một phân vùng FAT nhỏ tại đầu của đĩa để chứa bộ tải khởi động <command
>MILO</command
> và tập tin <command
>linload.exe</command
> &mdash; 5 MB nên là đủ; xem <xref linkend="non-debian-partitioning"/>. Tiếc là chưa hỗ trợ khả năng tạo hệ thống tập tin kiểu FAT từ trình đơn, nên bạn cần phải tự làm như thế từ trình bao, dùng <command
>mkdosfs</command
> trước khi thử cài đặt bộ tải khởi động. </para>
  </sect2>
<!--   End of file partitioning/partition/alpha.xml -->

<!-- Start of file partitioning/partition/hppa.xml -->
<!-- $Id: hppa.xml 35595 2006-03-18 21:15:59Z fjp $ -->


  <sect2 arch="hppa"
><title
>Phân vùng cho &arch-title;</title>
<para
>Trình PALO, bộ tải khởi động kiểu HPPA, cần thiết một phân vùng kiểu <quote
>F0</quote
> nằm ở một nơi nào đó trong phần 2 GB đầu của đĩa. Phân vùng này sẽ chứa bộ tải khởi động, hạt nhân tùy chọn và đĩa RAM, thì bạn nên tạo phân vùng đủ, ít nhất 4 MB (8-16 MB là tốt hơn). Phần vững cũng cần thiết hạt nhân Linux nằm trong phần 2 GB đầu của đĩa. Thường đạt cấu hình này bằng cách làm cho phân vùng ext2 gốc vừa hoàn toàn bên trong phần 2 GB đầu của đĩa. Hoặc bạn có thể tạo một phân vùng ext2 nhỏ gần đầu của đĩa và gắn kết nó vào <filename
>/boot</filename
>, vì thư mục đó là nơi sẽ cất giữ (các) hát nhân Linux. <filename
>/boot</filename
> cần phải là đủ lớn để chứa các hạt nhân (và bản sao lưu) bạn có thể muốn tải; 25-50 MB thường là đủ. </para>
  </sect2>
<!--   End of file partitioning/partition/hppa.xml -->

<!-- Start of file partitioning/partition/x86.xml -->
<!-- $Id: x86.xml 42250 2006-10-26 15:29:36Z fjp $ -->


  <sect2 arch="x86"
><title
>Phân vùng cho &arch-title;</title>
<para
>Nếu bạn có hệ điều hành khác đã có, v.d. DOS, Windows hay Mac OSX, và bạn muốn giữ lại hệ điều hành đó trong khi cài đặt Debian, bạn có thể cần phải thay đổi kích cỡ của phân vùng chứa nó để giải phóng thêm chỗ trống trên đĩa cho bản cài đặt Debian. Trình cài đặt hỗ trợ khả năng thay đổi kích cỡ của hệ thống tập tin kiểu cả hai FAT và NTFS; khi bạn tới bước phân vùng của tiến trình cài đặt, hãy bật tùy chọn <guimenuitem
>Bằng tay</guimenuitem
>, rồi đơn giản chọn một phân vùng tồn tại và thay đổi kích cỡ của nó. </para
><para
>BIOS của máy PC thường thêm ràng buộc nữa vào công việc tạo phân vùng đĩa. Trên đĩa, số phân vùng kiểu <quote
>chính</quote
> và <quote
>hợp lý</quote
> bị hạn chế. Hơn nữa, đối với BIOS gốc ở trước năm 1994&ndash;98, có thể khởi động BIOS đó từ chỉ một số nơi riêng trên đĩa. Thông tin thêm nằm trong tài liệu phân vùng Linux Thế Nào <ulink url="&url-partition-howto;"
>Linux Partition HOWTO</ulink
> và tài liệu Hỏi Đáp <ulink url="&url-phoenix-bios-faq-large-disk;"
>Phoenix BIOS FAQ</ulink
>, nhưng tiết đoạn này chứa một toàn cảnh ngắn để giúp đỡ bạn đặt kế hoạch phần lớn trường hợp. </para
><para
>Phân vùng <quote
>chính</quote
> (primary) là lược đồ phân vùng gốc cho đĩa kiểu PC. Tuy nhiên, có thể tạo chỉ bốn phân vùng chính. Để vượt qua sự hạn chế này, phân vùng kiểu <quote
>đã mở rộng</quote
> (extended) và <quote
>hợp lý</quote
> (logical) đã được phát minh. Bằng cách đặt một của những phân vùng chính là phân vùng đã mở rộng, bạn có khả năng chia nhỏ toàn bộ sức chứa được cấp phát cho phân vùng đó ra nhiều phân vùng hợp lý. Bạn có thể tạo đến 60 phân vùng hợp lý trong mỗi phân vùng đã mở rộng; nhưng mà, mỗi đĩa có thể chứa chỉ một phân vùng đã mở rộng thôi. </para
><para
>Linux hạn chế số phân vùng trên mỗi đĩa thành 15 phân vùng trên đĩa kiểu SCSI (3 phân vùng chính có thể dùng, 12 phân vùng hợp lý) và 63 phân vùng trên đĩa IDE (3 phân vùng chính có thể dùng, 60 phân vùng hợp lý). Tuy nhiên, hệ thống &debian; chuẩn cung cấp chỉ 20 thiết bị cho phân vùng, vì vậy bạn không thể cài đặt trên hơn 20 phân vùng nếu bạn chưa tự tạo một thiết bị dành cho mỗi phân vùng đó. </para
><para
>Trên một đĩa IDE lớn, nếu bạn không sử dụng khả năng đặt địa chỉ LBA (LBA addressing), cũng không sử dụng trình điều khiển phủ (overlay drivers, đôi khi được cung cấp bởi hãng chế tạo đĩa cứng), bạn cần phải để phân vùng khởi động (phân vùng chứa ảnh hạt nhân) trong 1024 hình trụ đầu của đĩa cứng đó (thường là vùng khoảng 524 MB, không có khả năng dịch BIOS). </para
><para
>Sự hạn chế này không có tác động nếu máy tính có BIOS mới hơn năm 1995&ndash;98 (phụ thuộc vào hãng chế tạo) hỗ trợ <quote
>Đặc Tả Hỗ Trợ Ổ Đĩa Tăng Cường</quote
>. Cả LILO (bộ tải Linux) lẫn trình xen kẽ của Debian <command
>mbr</command
> phải sử dụng BIOS để đọc hạt nhân từ đĩa vào bộ nhớ RAM. Nếu nó phát hiện các phần mở rộng truy cập đĩa lớn kiểu BIOS int 0x13, nó sẽ sử dụng chúng. Nếu không thì giao diện truy cập đĩa thừa tự được dùng như là khả năng dự trữ; nó cũng không thể được dùng để định vị trí nào trên đĩa nằm cao hơn hình trụ thứ 1023. Một khi khởi động Linux, kiểu BIOS nào không có tác động và những sự hạn chế này không còn có tác động lại, vì Linux không sử dụng BIOS để truy cập đĩa. </para
><para
>Trên đĩa lớn, bạn có thể cần phải sử dụng kỹ xảo dịch hình trụ, mà bạn có thể đặt trong chương trình thiết lập BIOS, như LBA (Logical Block Addressing: định vị khối hợp lý) hay chế độ dịch CHS (<quote
>Lớn</quote
>). Thông tin thêm về vấn đề đối với đĩa lớn nằm trong tài liệu đĩa lớn Thế Nào <ulink url="&url-large-disk-howto;"
>Large Disk HOWTO</ulink
>. Nếu bạn sử dụng lược đồ dịch hình trụ mà BIOS không hỗ trợ các phần mở rộng truy cập đĩa lớn, phân vùng khởi động phải nằm trong vùng đại diện <emphasis
>đã dịch</emphasis
> của hình trụ thứ 1024. </para
><para
>Phương pháp khuyến khích để đạt cấu hình này là tạo một phân vùng nhỏ (25&ndash;50 MB nên là đủ) tại đầu của đĩa, để được dùng là phân vùng khởi động, rồi tạo các phân vùng khác được muốn trong vùng còn lại. Phân vùng khởi động này <emphasis
>cần phải</emphasis
> được gắn kết vào <filename
>/boot</filename
>, vì đó là thư mục nơi (các) hạt nhân Linux sẽ được cất giữ. Cấu hình này sẽ hoạt động được trên mọi hệ thống, bất chấp dùng LBA hay khả năng dịch CHS đĩa lớn, và bất chấp BIOS hỗ trợ các phần mở rộng truy cấp đĩa lớn. </para>
  </sect2>
<!--   End of file partitioning/partition/x86.xml -->

<!-- Start of file partitioning/partition/ia64.xml -->
<!-- $Id: ia64.xml 43254 2006-12-09 19:03:58Z fjp $ -->


  <sect2 arch="ia64"
><title
>Phân vùng cho &arch-title;</title>
<para
>Bộ tạo phân vùng đĩa <command
>partman</command
> là công cụ phân vùng mặc định cho trình cài đặt. Nó quản lý tập phân vùng và các điểm lắp của chúng để đảm bảo các đĩa và hệ thống tập tin được cấu hình đúng để cài đặt thành công. Nó thật sự dùng trình <command
>parted</command
> để tạo phân vùng trên đĩa. </para>

   <note>
   <title
>Dạng thức do EFI chấp nhận</title>
<para
>Phần vững EFI IA64 hỗ trợ hai định dạng bảng phân vùng (hay nhãn đĩa): GPT và MS-DOS. MS-DOS, định dạng thường dùng trên hệ thống PC kiểu i386, không còn khuyến khích lại cho hệ thống IA64. Mặc dù bộ cài đặt cũng cung cấp trình <command
>cfdisk</command
>, bạn nên dùng chỉ trình <ulink url="parted.txt"
> <command
>parted</command
></ulink
> vì nó là chương trình duy nhất có khả năng quản lý được bảng kiểu cả hai GPT và MS-DOS thôi. </para
></note>

<para
>Các công thức tạo phân vùng tự động dành cho trình <command
>partman</command
> cấp phát một phân vùng kiểu EFI như là phân vùng thứ nhất nằm trên đĩa. Bạn cũng có khả năng thiết lập phân vùng đó dưới mục <guimenuitem
>Phân vùng đã hướng dẫn</guimenuitem
> nằm trong trình đơn chính, bằng cách tương tự với cách thiết lập phân vùng <emphasis
>trao đổi</emphasis
>. </para
><para
>Bộ tạo phân vùng <command
>partman</command
> quản lý được phần lớn bố trí đĩa. Trong trường hợp hiếm có mà cần thiết tự thiết lập đĩa, bạn có khả năng sử dụng trình bao như được diễn tả bên trên và chạy trực tiếp tiện ích <command
>parted</command
> bằng giao diện dòng lệnh của nó. Giả sử bạn muốn xoá toàn bộ đĩa, tạo một bảng GPT và một số phân vùng, có thể sử dụng dãy lệnh nào tương tự với điều này:<informalexample
><screen>
      mklabel gpt
      mkpartfs primary fat 0 50
      mkpartfs primary linux-swap 51 1000
      mkpartfs primary ext2 1001 3000
      set 1 boot on
      print
      quit
</screen
></informalexample
> Dãy lệnh này tạo một bảng phân vùng mới, và ba phân vùng sẽ được dùng như là phân vùng khởi động EFI, vùng trao đổi và hệ thống tập tin gốc. Cuối cùng nó đặt cờ khởi động trên phân vùng EFI. Các phân vùng được xác định theo MB, với hiệu số bắt đầu và kết thúc từ đầu của đĩa. Vì vậy, dãy lệnh bên trên đã tạo một hệ thống tập tin kiểu ext2 có kích cỡ 1999 MB, bắt đầu tại hiệu số 1001 MB từ đầu của đĩa. Ghi chú rằng tiến trình định dạng vùng trao đổi bằng <command
>parted</command
> có thể mất vài phút, vì nó quét phân vùng tìm khối hỏng nào. </para>
  </sect2>

  <sect2 arch="ia64"
><title
>Nhu cầu phân vùng của bộ tải khởi động</title>
<para
>ELILO, bộ tải khởi động IA64, cần thiết một phân vùng chứa hệ thống tập tin kiểu FAT với cờ <userinput
>boot</userinput
> (khởi động) được đặt. Phân vùng này cần phải là đủ lớn để chứa bộ tải khởi động đó và các hạt nhân hay đĩa RAM bạn muốn khởi động. Kích cỡ tối thiểu là khoảng 20 MB, nhưng nếu bạn muốn chạy với nhiều hạt nhân, 128 MB có thể là kích cỡ thích hợp hơn. </para
><para
>Cả bộ quản lý khởi động EFI lẫn trình bao EFI đều hỗ trợ hoàn toàn bảng GPT vì vậy phân vùng khởi động không nhất thiết là phân vùng thứ nhất hay ngay cả nằm trên cùng đĩa. Trường hợp này là tiện lợi nếu bạn quên cấp phát phân vùng, phát hiện lỗi này chỉ sau khi định dạng các phân vùng khác trên đĩa. Bộ tạo phân vùng <command
>partman</command
> kiểm tra có phân vùng EFI vào cùng lúc kiểm tra có phân vùng <emphasis
>gốc</emphasis
> đã được thiết lập đúng. Tiến trình này cho bạn dịp sửa lại bố trí đĩa trước khi tiến trình cài đặt gói có khởi chạy. Cách dễ nhất sửa lại sự bỏ quên này là thu hẹp phân vùng cuối cùng của đĩa để tạo đủ sức chứa còn rảnh để thêm một phân vùng EFI. </para
><para
>Rất khuyên bạn cấp phát phân vùng khởi động EFI nằm trên cùng một đĩa với hệ thống tập tin <emphasis
>gốc</emphasis
>. </para>
  </sect2>

  <sect2 arch="ia64"
><title
>Phân vùng chẩn đoán EFI</title>
<para
>Phần vững EFI là hơi tinh tế, so sánh với BIOS thường nằm trên phần lớn máy PC kiểu x86. Một số nhà sản xuất hệ thống nhớ dịp khả năng của EFI để truy cập tập tin và chạy chương trình từ hệ thống tập tin đĩa cứng để cất giữ thông tin chẩn đoán và các tiện ích quản lý hệ thống tập tin dựa vào EFI trên đĩa cứng đó. Đây là hệ thống tập tin riêng có dạng thức FAT nằm trên đĩa hệ thống. Xem tài liệu hướng dẫn của hệ thống và các bổ sung có sẵn với hệ thống để tìm chi tiết. Điểm thời dễ nhất để thiết lập một phân vùng chẩn đoán là cùng lúc thiết lập phân vùng khởi động EFI. </para>
  </sect2>
<!--   End of file partitioning/partition/ia64.xml -->

<!-- Start of file partitioning/partition/mips.xml -->
<!-- $Id: mips.xml 35613 2006-03-19 04:18:28Z tbm $ -->


  <sect2 arch="mips"
><title
>Phân vùng cho &arch-title;</title>
<para
>Máy tính kiểu SGI cần thiết một nhãn đĩa SGI để làm cho hệ thống có khả năng khởi động từ đĩa cứng. Có thể tạo nó trong trình đơn nhà chuyên môn (expert) của trình fdisk. Phần đầu khối tin (volume header) đã được tạo bằng cách này (phân vùng số 9) nên có kích cỡ ít nhất 3 MB. Nếu nó quá nhỏ, bạn đơn giản có thể xoá bỏ phân vùng số 9 rồi thêm lại nó với kích cỡ khác. Ghi chú rằng phần đầu khối tin phải bắt đầu tại rãnh ghi 0. </para>
  </sect2>
<!--   End of file partitioning/partition/mips.xml -->

<!-- Start of file partitioning/partition/powerpc.xml -->
<!-- $Id: powerpc.xml 23146 2004-10-16 14:20:10Z cjwatson $ -->


  <sect2 arch="powerpc"
><title
>Tạo phân vùng trên PowerMac mới hơn</title>
<para
>Nếu bạn đang cài đặt vào máy tính PowerMac mới hơn, bạn cần phải tạo một phân vùng kiểu tải và khởi động hệ điều hành (bootstrap) để chứa bộ tải khởi động. Kích cỡ của phân vùng này phải là 800 KB; kiểu phân vùng của nó phải là <emphasis
>Apple_Bootstrap</emphasis
>. (Nếu nó không phải có kiểu <emphasis
>Apple_Bootstrap</emphasis
>, không thể làm cho máy tính đó khởi động được từ đĩa cứng.) Phân vùng này có thể được tạo dễ dàng bằng cách tạo một phân vùng mới bằng trình <command
>partman</command
>, rồi báo trình đó dùng nó như là <quote
>NewWorld boot partition</quote
> (phân vùng khởi động PowerMac kiểu mới), hoặc trong trình <command
>mac-fdisk</command
> bằng cách dùng lệnh <userinput
>b</userinput
>. </para
><para
>Kiểu phân vùng đặc biệt « Apple_Bootstrap » cần thiết để ngăn cản hệ điều hành MacOS gắn kết và làm hại phân vùng tải và khởi động hệ điều hành, vì nó đã được sửa đổi đặc biệt để cho phần vững OpenFirmware khả năng khởi động tự động nó. </para
><para
>Ghi chú rằng phân vùng tải và khởi động hệ điều hành dự định chứa chỉ 3 tập tin rất nhỏ : tập tin nhị phân <command
>yaboot</command
>, cấu hình của nó <filename
>yaboot.conf</filename
>, và một bộ tải phần vững OpenFirmware giai đoạn thứ nhất <command
>ofboot.b</command
>. Không cần gắn kết nó vào hệ thống tập tin của bạn: chủ yếu là không gắn kết nó vào đó, cũng không có hạt nhân hay cái gì khác nào được sao chép vào nó. Những tiện ích <command
>ybin</command
> và <command
>mkofboot</command
> được dùng để thao tác phân vùng này. </para
><para
>Cốt để phần vững OpenFirmware khởi động tự động &debian;, phân vùng tải và khởi động hệ điều hành nên nằm trước các phân vùng khởi động khác trên đĩa, nhất là phân vùng khởi động kiểu MacOS. Phân vùng tải và khởi động hệ điều hành nên là phân vùng thứ nhất bạn tạo. Tuy nhiên nếu bạn thêm một phân vùng tải và khởi động hệ điều hành vào lúc sau, bạn có khả năng dùng lệnh <userinput
>r</userinput
> của trình <command
>mac-fdisk</command
> để sắp xếp lại sơ đồ phân vùng để mà phân vùng tải và khởi động hệ điều hành nằm đúng sau sơ đồ đó (mà luôn luôn là phân vùng số 1). Quan trọng là thứ tự sơ đồ hợp lý, không phải thứ tự địa chỉ vật lý. </para
><para
>Đĩa kiểu Apple thường có vài phân vùng nhỏ chứa trình điều khiển. Nếu bạn định khởi động đôi máy tính với Mac OSX, bạn nên giữ lại các phân vùng đó, cũng với một phân vùng kiểu HFS nhỏ (kích cỡ tối thiểu là 800 KB). Đó là vì hệ điều hành Mac OSX, mỗi khi khởi động, thử sở khởi đĩa nào chưa có phân vùng kiểu MacOS và trình điều khiển hoạt động. </para>
  </sect2>
<!--   End of file partitioning/partition/powerpc.xml -->

<!-- Start of file partitioning/partition/sparc.xml -->
<!-- $Id: sparc.xml 11648 2004-03-22 00:37:46Z joeyh $ -->


  <sect2 arch="sparc"
><title
>Phân vùng cho &arch-title;</title>
<para
>Hãy chắc là bạn tạo một <quote
>nhãn đĩa Sun</quote
> trên đĩa khởi động. Đây là lược đồ phân vùng duy nhất do PROM của OpenBoot hiểu nên nó là lược đồ duy nhất từ đó bạn có khả năng khởi động. Trong trình <command
>fdisk</command
>, phím <keycap
>s</keycap
> được dùng để tạo nhãn đĩa Sun. </para
><para
>Hơn nửa, trên đĩa kiểu &arch-title;, hãy chắc là trên đĩa khởi động, phân vùng thứ nhất bắt đầu tại hình trụ số 0. Dù nó cần thiết, nó cũng có nghĩa là phân vùng thứ nhất sẽ chứa bảng phân vùng và khối khởi động, hai rãnh ghi thứ nhất của đĩa. Chủ yếu là bạn <emphasis
>không</emphasis
> để vùng trao đổi vào phân vùng thứ nhất của đĩa khởi động, vì phân vùng trao đổi không bảo tồn vài rãnh ghi đầu của phân vùng đó. Bạn có khả năng để phân vùng kiểu ext2 hay UFS vào đó ; chúng sẽ không sửa đổi bảng phân vùng hay khối khởi động. </para
><para
>Cũng khuyên bạn đặt phân vùng thứ ba là kiểu <quote
>Whole disk</quote
> (toàn bộ đĩa) (kiểu 5), chứa toàn bộ đĩa (từ hình trụ thứ nhất đến điều cuối cùng). Đây đơn giản là quy ước của nhãn đĩa Sun, giúp đỡ bộ tải khởi động <command
>SILO</command
> định hướng. </para>
  </sect2>
<!--   End of file partitioning/partition/sparc.xml -->

 </sect1>
<!--   End of file partitioning/partition-programs.xml -->

</appendix>
<!--   End of file partitioning/partitioning.xml -->